top of page

Ta nói gì về chuyện TẠI SAO CHÚNG TA GHÉT NHỮNG THỨ RẺ TIỀN

  • Jun 29, 2021
  • 15 min read

Updated: Jul 16, 2021

Ta có thể phản đối rằng ta không ghét cái gì chỉ vì nó rẻ tiền. Nhưng cách hành xử của chúng ta nhìn chung lại nói lên điều đó.



Lưu ý, đây không phải review hay tóm tắt sách. Vì bài viết (luôn) có spoil, nên hy vọng bạn đọc qua sách trước ít nhất 1 lần nhằm vẹn nguyên trải nghiệm đọc. Nếu khum rảnh, ừ dô nè!

Hồi bé, đã bao giờ bạn chờ tới tối để cùng ba mẹ qua nhà hàng xóm coi ké tivi không? Nhà nào có tivi trắng đen là sang lắm, sang hơn thì tậu hẳn cái tivi màu. Mà xóm nào cũng thường chỉ có 1 2 nhà đủ điều kiện như vậy. Các bà các mẹ đa phần giành coi cải lương, có khi thì nguyên xóm chụm lại coi phim bộ, rồi lâu lâu là có tiếng vỗ đùi "ơ sao cái con nhỏ này ngu quá, bị lừa mà không biết". Con nít cũng thích coi, nhưng chủ yếu là vì khoái ngắm nghía tivi, hẳn là một chiếc hộp thần kỳ có thể thu nhỏ con người lại. Đứa nào cũng nằng nặc đòi sắm cho bằng được. Thời gian trôi qua, mức sống cũng tăng theo, và bây giờ hình như nhà nào cũng có tivi hết rồi. Nhưng có vẻ chẳng mấy ai mặn mà như trước. Ít đứa con nít còn săm soi chiếc tivi như vật báu nữa, tụi nó chán. Tivi dần đi vào dĩ vãng cùng kỷ niệm.


Có lạ không? Vẫn là cái hộp thần kỳ đó, nhưng khi khả năng chi trả cho nó giảm xuống thì độ ham thích lại giảm theo. Không riêng con nít, chúng ta hẳn cũng có những trải nghiệm kiểu đó. Thay vì thích thú, chúng ta lại đâm ra ghét, vì nó dần rẻ tiền sao? Như tên gọi, "Tại sao chúng ta ghét những thứ rẻ tiền" sẽ đưa ra những lời giải thích về phản ứng tâm lý này.


Nguồn gốc quả dứa

Trước khi đi vào vấn đề chính, hãy cùng ngược dòng thời gian về thế kỷ 15 để lần tìm về câu chuyện "lên voi xuống chó" của quả dứa trước đã.


Năm 1493, Chritopher Columbus bắt đầu chuyến hải trình thứ hai, cũng tiến về "Ấn Độ" như lần đầu tiên vào một năm trước, và mang về các sản vật cùng nhiều thức quà mới lạ, trong số đó có quả dứa, hay với cái tên mỹ miều hơn là quả huyền nương. Tuy nhiên, dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng người ta vẫn còn vấp phải những khó khăn trong khâu vận chuyển và cũng như là trồng trọ tại chính nước nhà, vì thế trong một khoảng lâu, chỉ có những người đủ điều kiện như tầng lớp hoàng gia mới có cơ hội trải nghiệm ăn quả dứa. Những người đam mê quả dứa có thể kể đến là Nữ hoàng Catherine Đại đế của Nga và Vua nước Anh là Charles Đệ nhị. Một quả dứa đáng giá 5000 bảng, nó nhanh chóng trở thành biểu tượng của địa vị. Thậm chí, câu nói "Pineapple is of a finest flavour" còn được dùng nhằm chỉ những thứ tuyệt vời nhất trong giai đoạn hoàng kim khi đó.


Bá tước Dunmore, John Murray, đã xây một ngôi điện để tôn vinh qua dứa (1761)

Rồi, cuối thế kỷ 19, thế giới có những bước tiến lớn trong công nghệ tàu hơi nước, các đồn điền thương mại quy mô lớn cũng mọc lên và kéo theo là chi phí vận chuyển, sản xuất giảm đi đáng kể. Một quả dứa đã có thể mua với giá 1,5 bảng với cùng hương vị ngon lành. Nhưng, tâm lý ăn dứa lại thay đổi. Chúng trở thanh một thứ trái cây kém sang nhất, người ta cũng không còn đua nhau có được nữa. Từ đây, ta tìm thấy có sự tương quan tỉ lệ nghịch giữa niềm yêu thích và giá cả:

Chúng ta coi trọng hết mực một thứ gì đó khi phải trả giá lớn cho việc có nó. Nhưng khi giá trên thị trường giảm, thì niềm đam mê dành cho nó có chiều hướng giảm theo.

Một thứ, dù giá cao bao nhiêu thì cũng chẳng mang lại lợi ích cho nó, nhưng ở phía ngược lại, nếu một thứ tốt đẹp nhưng rẻ mạt thì sẽ có nguy cơ chịu sự thờ ơ ghẻ lạnh. Hãy quay lại với cái tivi, cũng là nó nhưng với 2 giai đoạn chuyển giá khác nhau, người ta cũng mang thái độ khác nhau. Cũng như chuyện thắp đèn vào buổi tối, vốn là chuyện xa xỉ ở thời đại nến và đèn dầu, và trở nên tẻ nhạt khi con người bước vào kỷ nguyên đèn sợi đốt. Và thú thực, mình cũng không biết sẽ như thế nào nếu concert Hà Anh Tuấn tổ chức nhiều lần trong năm, với khán giả nhiều hơn cùng tiền vé giảm đi.

Người ta bớt coi trọng một trải nghiệm khi chi phí để có trải nghiệm đó sụt giảm.

Vậy từ đâu mà chúng ta, vô tình hoặc có chủ ý, lại gắn liền giá rẻ với giá trị thấp kém?


Công nghiệp và thủ công, giá thành và chất lượng

Tác giả cho rằng đó là do "di sản để lại của thời tiền công nghiệp kéo dài". Trong suốt một chặng đường lịch sử, giá cả và giá trị luôn có mối tương quan chặt chẽ. Cái gì giá càng cao thì càng tốt, bởi lẽ, đồ rẻ tiền thì không thể nào tốt được. Lý giải cho điều này, các tạo vật đều được làm thủ công, bởi những người thợ lành nghề và bằng những vật liệu thô quý giá khó chuyên chở. Nghĩa là, chất lượng của một món đồ phụ thuộc vào công sức lao động kỹ thuật đổ vào để làm ra nó. Một chiếc áo choàng đắt hơn sẽ bền hơn, ấm hơn và được trang trí cầu kỳ hơn chiếc áo rẻ tiền, một cái cửa sổ đắt hơn cho phép nhiều ánh sáng vào nhà hơn, ngăn gió luồn tốt hơn và mở ra dễ hơn so với những món cạnh tranh có giá thấp. Chính vì lối thủ công nghiệp này mà chi phí sản xuất cho những món hàng xịn mịn luôn đắt đỏ, và với những mặt hàng tầm trung, chất lượng tựa như nằm ở phía bên kia dãy núi.


Cách mạng Công nghiệp đã thay đổi hoàn toàn phương thức sản xuất

Vậy đâu là lối thoát cho tình trạng này? Cuối thế kỷ 18, Cách mạng Công nghiệp đã tạo ra điều phi thường, nó phá bỏ giới hạn kiểu cũ về mối quan hệ giá cả-giá trị, ở đây con người làm ra vật dụng chất lượng cao với giá thành rẻ. Món hàng xịn-rẻ gia nhập thị trường đại chúng, cơ hội tiếp cận tăng lên và ai cũng có thể mua được món đồ mình thích. Song, công nghiệp hóa lại vô tình phát sinh hệ quả khác: nó tước đi sự đẹp đẽ, tính hấp dẫn và giá trị của không ít trải nghiệm.

Không phải là chúng ta không chịu mua những thứ tầm trung hoặc rẻ tiền, nhưng ta nhận thấy có gì đó kì cục khi mình hứng thú quá mức với chúng.

Tâm lý chúng ta có những suy nghĩ về món đồ mình cầm trên tay, rằng thật lạ nếu mình quá đam mê một thứ rẻ tiền, rằng tại sao lại phải cuồng nhiệt trong khi ai cũng có thể có được và rằng liệu nó có thật sự tốt với cái giá này không. Chúng ta phấn khích trước hộp trứng cá tầm đen nhưng lại tỏ ra điềm đạm với tá trứng gà ngon từ siêu thị, lạ chứ?


Vậy làm thế nào để đảo ngược tình trạng trên? Hãy hỏi một đứa trẻ bốn tuổi.

Trẻ con có 2 ưu thế: không biết mình phải thích gì, và không hiểu tiền bạc.
My drawing was not...

Đứa trẻ không bao giờ xem giá cả là chỉ dẫn cho giá trị, thay vào đó, chúng lưu tâm tới niềm thích thú với giá trị nội tại món vật hơn. Lấy ví dụ: ba mẹ mua cho chúng món đồ chơi gỗ được làm thủ công từ tận nước ngoài và mong có thể dạy chúng bài học về tính đối xứng, để rốt cuộc nhận ra bọn trẻ thích chơi với cái hộp đựng hơn. Giống như người ta từng mê mệt quả dứa, chính thái độ đó của lũ trẻ giúp chúng say mê mà giá cả chưa bao giờ được phép chi phối. Nếu được định giá, hẳn bọn trẻ sẽ trả lời dựa vào ích lợi và mức độ hấp dẫn của món đồ chứ không quan tâm tới chi phí sản xuất. Dĩ nhiên câu trả lời này sai.

Giá cả chỉ phản ánh chi phí làm ra món đồ đó.

Điều đáng tiếc là người lớn coi chi phí như lời chỉ dẫn của tầm quan trọng. Giá tiền không bao giờ nên là thước đo. Và rồi trẻ con cũng phải lớn, chúng bắt đầu biết phân biệt đắt và rẻ, được dạy rằng cái gì càng đắt thì càng tốt và được khích lệ phải biết dành dụm và hiểu rằng một món đồ chơi hoành tráng ắt phải tốt hơn một món rẻ tiền. Quá trình đánh mất tâm trí bốn tuổi đã bắt đầu như vậy.


Từ một quả dứa đến nghìn trái táo khác nhau

Chúng ta không thể phủ định đồng tiền và giá cả, vì nó là phần tất yếu của cuộc sống. Song, khi đánh giá một thứ, hãy khoan nghĩ nó có giá bao nhiêu mà quan tâm nhiều hơn đến phản hồi của bản thân mình. Nghệ sĩ hẳn là những người làm tốt điều này nhất. Vậy giờ, hãy nói về Paul Cézanne - họa sĩ người Pháp, một trong những chuyên gia trong việc lưu lại và truyền đạt nhiệt huyết của mình.


Paul Cézanne đã dành phần nhiều thời gian chỉ để vẽ những quả táo. Độ mượt của vỏ, hình dáng, sự chuyển giao giữa những khoảng màu vàng lem và những khoảng màu đỏ sậm,... là những thứ hút hôn ông. Ông nhận ra mỗi quả táo là một vũ trụ với hương thơm, kiểu dáng và màu sắc riêng biệt, chúng khơi gợi niềm ham thích trong ông. Tựa như tâm hồn đứa trẻ khi trên tay cầm chiếc hộp đựng nhỉ? Khác là, Cézanne giàu có và ông ý thức chuyện đó. Nói như vậy để thấy rằng Cézanne không phải chỉ làm thế vì không còn lựa chọn nào khác và sẽ thờ phụng đồng tiền nếu như ông có cơ hội. Cézanne có cơ hội nhưng ông đã chọn không ngả về phía đồng tiền.


Tác phẩm "The Basket of Apples" (Paul Cézanne)
Cézanne có trước quả táo tất cả nỗi kinh ngạc, tình yêu và niềm phấn khích mà Catherine Đại đế và Charles II có trước quả dứa.

Khác với sự thương lưu mà quả dứa từng có, táo vốn chỉ có giá khiêm tốn. Và khác với thái độ người ta từng dành cho quả dứa, Cézanne hoàn toàn bộc lộ những thứ cảm xúc thăng hoa và mạnh mẽ, một cách rất chính đánh và không thị trường.


Cách mạng Công nghiệp giúp ai cũng có thể tiếp cận những đồ từng là xa xỉ, Cézanne thì làm khác. Ông tạo ra một cuộc cách mạng riêng - Cách mạng Thưởng thức - giúp nâng mức độ thưởng thức của đồ vật. Nó mở ra một đường hướng mới trong việc tìm lại giá trị nội tại (sẽ nói rõ trong phần sau). Sẽ dần thôi cảm thấy nghèo vì mình chẳng thể mua nỗi những thứ giá trị, giờ đây, bỗng nhiên ta có được nhiều thứ tuyệt vời hơn chỉ bằng món tiền nhỏ.


Ta biết gì về giá cả?

Tình yêu của ta ngày bé đã phải đầu hàng trong thế giới của người lớn. Chúng ta đã từ bỏ quá nhiều tình yêu nguyên thủy. Không hào hứng với những thứ rẻ tiền không phải là thói xấu hằng hữu của con người, mà chỉ là một bất hạnh văn hóa hiện tại.

Ở thế giới người lớn đó, có gì nhầm lẫn không? Hãy nghĩ lại mối quan hệ của mình với giá cả. Giá một thứ được xác định chủ yếu bằng chi phí làm ra chứ không phải giá trị tiềm năng nó tạo ra cho con người. 3 yếu tố chi phối giá cả bao gồm: giá trị của bản thân hàng hoá đó, giá trị của đồng tiền và quan hệ cung-cầu. Dường như là không có chỗ cho giá trị nội tại hay giá trị sử dụng hàng hóa xen vào.


Vậy có phải là ta hơi quá tôn sùng giá cả không? Ta xem nó là kim chỉ nam để đánh giá một vật, để nó quy định mức độ hứng thú và vui thích trong nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Nhưng giá cả chưa bao giờ có ý nghĩa đó. Chúng ta đang thổi quá nhiều sự sống cho chúng, dần dà khiến cho ta mất cảm giác trước thế giới của những thứ không đắt đỏ.


Vậy, liệu chúng ta có đang áp dụng điều này lên con người hay không? Thay vì được mua về, con người được thuê để làm việc. Thay vì món vật có giá thành, thì con người con lương bổng. Đối với người kiếm ít tiền, có hay không chuyện chúng ta đã và đang xem nhẹ họ, so với phần còn lại của 7,8 tỉ người.


Tiền lương, sự đóng góp xã hội và thái độ con người

Sự tôn trọng thường được ban phát theo thu nhập.

Có một thực trạng là: càng kiếm nhiều tiền, bạn càng được những người lạ ngưỡng mộ, được coi là người thú vị và đáng quan tâm, ngược lại, nếu bạn không có khả năng tài chính đủ tốt, bạn khó lòng khiến xã hội coi trọng cá tính và quan điểm của mình. Ta dễ thấy nhiều trường hợp mà nỗ lực, tài năng và sự cống hiến gắn liền với thu nhập. Ví dụ có thể kể đến như vị bác sĩ phẫu thuật có tên tuổi, tác giả của Harry Potter hay đội ngũ sáng chế ra siêu vật liệu graphen. Họ tài năng, họ kiếm tiền rất nhiều và đóng góp của họ là không thể chối cãi. Vì họ mà ta thấy mối tương quan giữa thu nhập và phẩm chất là một điều (có vẻ) tự nhiên và hợp lý.


Nhiều trường hợp như thế khiến ta cho rằng thu nhập là chỉ dấu xác đáng cho đóng góp của một người với cuộc đời những người khác, và vì thế sự tôn trọng cần phải gắn với thu nhập. Lần nữa, ta bắt gặp sự tương đồng với mối tương quan giữa giá trị nội tại và giá thành, rằng đồng tiền là kim chỉ nam cho niềm ham thích và sự đánh giá.


Thế, bản chất của tiền lương là gì?


Trước khi mở cuốn Kinh tế Chính trị ra tìm, đã có một lý thuyết kinh tế len lỏi trong cuộc sống ta rất lâu, tuy khó cắt nghĩa rõ ràng nhưng có thể phát biểu thế này: mức lương một người được xác định nhờ mức độ đóng góp của họ cho xã hội. Nhưng, định nghĩa chính xác thì ít mang nặng cảm xúc hơn nhiều.

Bản chất của tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị sức lao động thông qua sự thoả thuận giữa người có sức lao động và người sử dụng lao động, đồng thời chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế như. Giá trị hàng hóa sức lao động được biểu hiện trên thị trường thông qua tiền lương. Vì vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động.

Trong bản chất tiền lương, không có chỗ nào phán xét giá trị của công việc đó. Nếu nhiều người có thể làm tác vụ này, bạn không cần phải trả nhiều tiền để có được sức lao động của họ; nếu rất ít người làm được công việc đó, bạn sẽ phải phải trả cao hơn nhiều.


Hãy lấy ví dụ về tay sát thủ và người điều dưỡng thử nhé.



Với những nhiệm vụ đòi hỏi cao và khó nhằn khi đối tượng được nhắm vào có lực lượng cận vệ riêng, những tay sát thủ có thể gặt hái mức thù lao lên tới 6 con số không vì hầu như không ai khác có thể thực hiện nhiệm vụ phức tạp đó. Ngược lại, người điều dưỡng phải chăm nom người bệnh cho tới tận ngày cuối cùng, rõ là một nhiệm vụ có ý nghĩa nhất ta có thể tưởng tượng ra, nhưng mức lương nhận được chỉ bằng phần nhỏ so với thù lao của sát thủ. Trong cả hai trường hợp, lương bổng đều không liên hệ tới mức độ đóng góp, vấn đề chỉ đơn giản là bao nhiêu người có khả năng làm được tác vụ và có bao nhiêu nhu cầu cho việc đó.

Bạn có thể thuê ai đó có những phẩm chất đáng nể trọng nhưng chỉ trao lại cho họ một phần thù lao ít ỏi.

Đây hẳn là một nghịch lý đáng buồn. Trong xã hội, một số phẩm chất tuyệt vời như ân cần, cảm thông và cần cù được phân bố rộng khắp, song cái giá thì rẻ bèo. Tay sát thủ có thể kiếm tiền theo cách thức đáng sợ, nhưng thế giới này vẫn chỉ cần nhìn thấy số tiền y kiếm được và bị ấn tượng cùng sự trầm trồ. Còn với những người điều dưỡng, dù chúng ta có ngợi ca cô ta đáng trân trọng thế nào, thì phần lớn thời gian cô ta vẫn chỉ là cái bóng vô danh trong hàng ngàn người chờ xe buýt không ai săn đón.


Chức năng của nghệ thuật

Khoan vội nghĩ về tiêu đề, hãy cùng lội ngược lịch sử một chút và nhìn xem con người đã thử giải quyết nan đề này như thế nào.


Theo tác giả, nỗ lực đầu tiên chính là Kitô giáo. Học thuyết khẳng định rằng "giá trị một người không liên quan tới khả năng tài chính của người đó". Sau khi chết, linh hồn một người sẽ do Chúa phán xét và phẩm giá thực của họ sẽ được tưởng thưởng xứng đáng. Lương bổng của trần gian không đổi nhưng trong con mắt Kitô giáo, ý nghĩa của nó sẽ thay đổi và người nghèo sẽ không còn tủi nhục vì cái nghèo nữa.


Nỗ lực thứ hai liên quan tới sự công bằng thì lại nằm trong một chuyên luận nặng nề về tư bản - tác phẩm của Karl Marx. Ông đề xướng một thế giới mới, ở đó lần đầu tiên giai cấp công nhân sẽ được tưởng thưởng xứng đáng với mức độ đóng góp của họ cho xã hội. Theo đó ,thu nhập của bảo kê, chủ sòng bài sẽ suy giảm; thu nhập của điều dưỡng và nông dân sẽ gia tăng. Chủ nghĩa cộng sản sẽ đem lại thu nhập công bằng.


Nhưng có vẻ là trật tự kinh tế không có vẻ gì là sẽ thay đổi một sớm một chiều. Nhìn lại thì Chủ nghĩa Cộng sản hiện nay chỉ còn lại ở một vài nước, tôn giáo vẫn chưa quá đi đôi với xã hội, nhưng ta có quyền hy vọng về một cách thức hòng giải quyết sự bất tương xứng giữa lương bổng và mức độ đóng góp (hay sự tôn trọng).


Chúng ta đã nói qua về những quả táo cùng Cách mạng Thưởng thức trong phòng tranh của Cézanne, vậy nghệ thuật có thể làm điều tương tự với tình cảnh này không. Câu trả lời là có. Cụ thể là ở bức tranh "Thợ làm ren" của họa sĩ người Đức Caspar Netscher.



Vào thế lỷ 17-18, làm ren là một trong những nghề được trả lương thấp nhất. Bạn đoán xem vì sao? Bản chất tiền lương là câu trả lời: vì có quá nhiều người có thể làm điều này. Các họa sĩ không hy vọng sẽ làm thay đổi mức tiền công cho những người thợ làm ren, nhưng họ có ước vọng thay đổi cuộc đời những người làm nghề này. Họ muốn nâng cao địa vị và đòi lại chỗ đứng xã hội cho "tầng lớp bị coi thường về kinh tế này". Bằng nghệ thuật, họ hướng người xem vào độ khó và phẩm giá của nghề làm ren, để chúng ta không còn nhìn người thợ bằng nửa con mắt, hay xem mức lương ít ỏi phản ánh sự tầm thường, chỉ là họ được trả lương thấp vì là hệ quả của quy luật kinh tế cung-cầu.

Nghệ thuật vạch lại những gì chúng ta nghĩ là danh giá và trả lại sự ghi nhận thích đáng cho phẩm cách và công việc của một lớp người, nhất là những ai bị tôn ti xã hội đẩy ra ngoài lề. Nghệ thuật mang cho ta sự mẫn cảm để tri nhận phẩm chất đích thực của ai đó [...] nhắc nhở ta rằng thu nhập chưa chắc là chỉ dấu bất khả xâm phạm về giá trị con người. Ngược lại là đằng khác, vì nhìn vào thu nhập khiến ta bỏ qua những người xứng đáng được ta coi trọng [...] Nghệ thuật đề ra giải pháp giúp lấp phần nào hố ngăn giữa đồng tiền và giá trị con người. Mục đích của nghệ thuật là làm tăng thông tin đích đáng và chính xác về công việc của mọi người, để ta không còn lấy thu nhập làm thước đo đánh giá họ. Chừng nào ta hiểu hơn về ai đó, qua nghệ thuật hoặc cách nào khác, ta sẽ không còn chú trọng tới số dư tài khoản ngân hàng của họ nữa, và khi ấy đóng góp trong công việc của họ sẽ nổi bật lên, kèm theo đó là sự tôn vinh thích đáng.

Đó là khả năng to lớn của nghệ thuật. Dù vậy, vẫn phải thừa nhận hiện tại nghệ thuật vẫn chưa ảnh hưởng quá nhiều lên đại chúng, nhưng ta hoàn toàn có thể áp dụng nghệ thuật theo cách đó với quy mô rộng hơn. Mình từng thấy những buổi triển lãm tranh, kịch nói, tiểu phẩm,... nhằm tôn vinh các ngành nghề, nhưng có vẻ như chúng chỉ mới dừng lại ở việc tôn vinh và quá trình sơ khai của nhận thức.


Kết

"Tại sao chúng ta ghét những thứ rẻ tiền" chưa dừng lại ở đó, nó còn nói nhiều hơn về nạn thất nghiệp và lối tiêu dùng. Song, mình tin rằng đọc là cách hữu hiệu nhất để tri nhận, không phải bài viết này. Hy vọng đọc xong bạn sẽ có hứng thú với quyển sách, mình không bàn tới việc hay dở hay giá thành, như đã nêu, mình đang nói về niềm ham thích với giá trị nội tại. Cám ơn nhiều!

Comments


bottom of page